Bản tin thuế số 01 tháng 9 năm 2018

Đại lý thuế – Công ty TNHH dịch vụ tư vấn A&T tổng hợp  văn bản mới số 01, tháng 9 năm 2018, cụ thể như sau:

  1. Công văn số 3199/TCT-CS ngày 20/08/2018 về chính sách thuế

          Trường hợp Công ty TNHH vận tải và xếp dỡ Hải An được cấp giấy chứng nhận đăng ký lần đầu ngày 08/5/2009, sau đó Công ty TNHH vận tải và xếp dỡ Hải An tiến hành triển khai các thủ tục và được UBND thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 02120100337 ngày 18/6/2010 để thực hiện dự án: Đầu tư và kinh doanh cảng Container Hải An tại Phường Đông Hải 2, Quận Hải An, TP Hải Phòng. Kể từ khi thành lập doanh nghiệp đến khi được cấp Giấy chứng nhận dự án đầu tư, công ty TNHH vận tải và xếp dỡ. Hải An không kinh doanh ngành nghề, lĩnh vực nào khác ngoài dự án nêu trên. Nếu Công ty TNHH vận tải và xếp dỡ Hải An không thuộc các trường hợp quy định tại điểm 2.2 Mục I Phần H Thông tư số 130/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính thì được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo diện cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư theo các điều kiện thực tế đáp ứng.

          Trường hợp Công ty cổ phần vận tải và xếp dỡ Hải An thành lập trên cơ sở chuyển đổi từ Công ty TNHH vận tải và xếp dỡ Hải An thì Công ty cổ phần vận tải và xếp dỡ Hải An chịu trách nhiệm trả các khoản nợ tiền thuế, tiền phạt về thuế TNDN của Công ty TNHH vận tải và xếp dỡ Hải An và được kế thừa các ưu đãi về thuế TNDN cho thời gian còn lại nếu tiếp tục đáp ứng các điều kiện ưu đãi thuế TNDN.

          Tệp đính kèm: Download 

  1. Công văn số 3225/TCT-CS ngày 21/8/2018 về hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư

          Dự án đầu tư xây dựng công trình tuyến cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn theo hình thức hợp đồng BOT số 15/HĐ.BOT.BGTVT ngày 25/11/2016 ký giữa Bộ Giao thông vận tải với liên danh các nhà đầu tư: Công ty CP giao thông xây dựng số 1; Công ty TNHH Xây dựng Mỹ Đà; Công ty CP đầu tư UDIC; Công ty CP đầu tư 468; Công ty CP đầu tư và XD giao thông Phương Thành và Doanh nghiệp dự án: Công ty cổ phần BOT Bắc Giang – Lạng Sơn. Tại thời điểm lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế, Công ty cổ phần BOT Bắc Giang – Lạng Sơn đã góp đủ vốn Điều lệ như trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện góp vốn theo cam kết thì có một số nhà đầu tư không thanh toán hoặc chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua. Các nhà đầu tư chưa góp đủ số vốn như đã đăng ký ban đầu gồm: Công ty CP giao thông xây dựng số 1, Công ty TNHH Xây dựng Mỹ Đà, Công ty CP đầu tư 468. Số vốn còn lại chưa góp đủ của các nhà đầu tư này được chuyển cho Công ty CP đầu tư UDIC góp. Sau khi thay đổi tỷ lệ vốn góp, các nhà đầu tư tiếp tục chuyển nhượng cho nhau và chuyển nhượng cho các nhà đầu tư khác (Công ty cổ phần Licogi 16, Công ty TNHH Hòa Hiệp) theo tỷ lệ vốn góp mới.

          Căn cứ các quy định và tình hình thực tế nêu trên, đề nghị Cục Thuế TP Hà Nội căn cứ ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ Giao thông vận tải, Kiểm toán Nhà nước), kiểm tra, rà soát hồ sơ cụ thể, thu thập thông tin có liên quan đến việc góp vốn và chuyển nhượng vốn của Công ty để xử lý việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư theo quy định.

         Tệp đính kèm: Download 

  1. Công văn số 3238/TCT-DNL ngày 21/08/2018 xác định mức trích khấu hao khi thay đổi phương pháp khấu hao TSCĐ

           Công ty cổ phần bia Sài Gòn – Hà Nội không có thay đổi về thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ cũng như không có hoạt động nâng cấp, cải tạo để kéo dài thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ so với trạng thái hoạt động ban đầu mà chỉ thay đổi phương pháp tính khấu hao. Do vậy, Công ty cổ phần bia Sài Gòn – Hà Nội thực hiện xác định mức trích khấu hao TSCD của từng kỳ còn lại căn cứ vào giá trị còn lại của TSCĐ chia (:) cho thời gian sử dụng còn lại của TSCĐ (nếu không có thay đổi về thời gian sử dụng hữu ích so với ước tính ban đầu) và đảm bảo nguyên tắc không làm thay đổi kết quả kinh doanh của doanh nghiệp từ lãi thành lỗ hoặc ngược lại tại năm quyết định thay đổi.

          Tệp đính kèm: Download 

  1. Công văn số 3256/TCT-TNCN ngày 23/08/2018 về chính sách thuế TNCN

          Trường hợp Công ty ông Bùi Quang Hồng có chi trả tiền thưởng cho người lao động, khoản tiền thưởng bao gồm tiền nhà ở thì khoản tiền nhà nằm trong tiền thưởng này được tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh.

         Tệp đính kèm: Download 

  1. Công văn 3260/TCT-TTr ngày 23/08/2018 về điều kiện miễn lập hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết

           Công ty TNHH Hattori và Cộng sự hoạt động trong lĩnh vực khám, chữa các bệnh về mắt sử dụng kỹ thuật cao với dự án Bệnh viện mắt quốc tế Nhật Bản, không phải là hoạt động kinh doanh với chức năng đơn giản; hoạt động kinh doanh của Công ty không thuộc 01 trong 03 lĩnh vực (hoặc phân phối hoặc sản xuất hoặc gia công) để áp dụng các điều kiện được miễn lập hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 11 Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có phát sinh giao dịch liên kết. Vì vậy, Công ty không thuộc trường hợp được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo quy định.

           Tệp đính kèm: Download 

  1. Công văn số 3277/TCT-PC ngày 24/08/2018 về phạt chậm nộp tiền thuế

           Trường hợp cơ quan thuế kiểm tra, thanh tra thuế phát hiện người nộp thuế có hành vi chậm nộp tiền thuế, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn trong giai đoạn từ ngày 01/7/2007 đến trước ngày 01/7/2013, đến nay đã quá thời hiệu xử phạt theo quy định tại Khoản 2 Điều 110 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 thì người nộp thuế không bị xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi nêu trên nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn cao hơn vào ngân sách nhà nước và phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày 01/7/2013 tính trên số tiền thuế chậm nộp, số tiền thuế được hoàn cao hơn theo các mức quy định tương ứng với từng thời kỳ.

           Tệp đính kèm: Download

  1. Công văn số 3293/TCT-TNCN ngày 27/08/2018 về chính sách thuế TNCN

          Trường hợp cô ruột của người nộp thuế không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng và đáp ứng các điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính nêu trên thì cô ruột được tính là người phụ thuộc của người nộp thuế. Trường hợp cô ruột của vợ người nộp thuế thì không được tính là người phụ thuộc của người nộp thuế.

           Tệp đính kèm: Download

           Trân trọng.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!