Bản tin thuế số 03 tháng 12 năm 2018

        Đại lý thuế – Công ty TNHH dịch vụ tư vấn A&T tổng hợp  văn bản mới số 03, tháng 12 năm 2018, cụ thể như sau:

 

1 – Công văn số 5031/TCT-CS ngày 13/12/2018 về việc thuế nhà thầu đối với hợp đồng cung cấp giải pháp bảo về thương hiệu tích hợp

        – Trường hợp Công ty TNHH Bao bì Nexgen Việt Nam sử dụng “Giải pháp bảo vệ thương hiệu tích hợp” của Tập đoàn Valmarc để in nhãn đính vào sản phẩm của khách hàng, tức là sử dụng phần mềm dựa trên nền tảng mã vạch để truy xuất dãy số seri nhằm phân biệt các nhãn mác khác nhau trên bao bì sản phẩm nhằm theo dõi, kiểm soát, nhận diện thương hiệu, bảo vệ thương hiệu; vận chuyển, tiếp thị, theo dõi, kiểm soát hàng tồn kho… cho khách hàng là chủ thương hiệu thì thu nhập của Tập đoàn Valmarc từ việc cung cấp “Giải pháp bảo vệ thương hiệu tích hợp” là thu nhập từ bản quyền phần mềm thuộc đối tượng chịu thuế TNDN với tỷ lệ (%) tính trên doanh thu tính thuế là 10% và thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

        – Trường hợp Công ty TNHH Bao bì Nexgen Việt Nam sử dụng nhãn hiệu của Tập đoàn Valmarc kể cả trường hợp nhãn hiệu này được thể hiện bằng mã vạch để in trên bao bì sản phẩm thì thuế nhà thầu được thực hiện theo hướng dẫn tại công văn số 15888/BTC-CST ngày 7/11/2016 của Bộ Tài chính.

        Tệp đính kèm: Download

 

2 – Công văn số 5046/TCT-CS ngày 13/12/2018 về việc giải đáp chính sách thu lệ phí trước bạ

        Trường hợp hộ gia đình, cá nhân tạo lập bổ sung tài sản trên đất là nhà ở đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 3, Điều 45 và Điều 46 Luật Nhà ở, khi hộ gia đình, cá nhân đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà ở bổ sung nêu trên với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được miễn lệ phí trước bạ theo quy định tại Khoản 11 Điều 9 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP và Khoản 11 Điều 5 Thông tư số 301/2016/TT-BTC nêu trên.

        Tệp đính kèm: Download

 

3 – Công văn số 5056/TCT-CS ngày 13/12/2018 về việc chi phí đồng phục cho người lao động bằng Phiếu mua hàng

        Trường hợp người bán đã xuất hoá đơn GTGT, nội dung ghi trên hoá đơn là hàng hoá – Phiếu mua hàng là không đúng quy định như hướng dẫn khoản 7 Điều 3 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính và tại công văn số 3612/TCT-CC ngày 12/08/2016 của Tổng cục Thuế. Do đó, Công ty CP Bao bì Dầu khí Việt Nam và bên bán phải lập biên bản thu hồi hoá đơn sai sót theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Thông tư số 39/2014/TT-BTC nêu trên.

        Đối với cán bộ công nhân viên được Công ty CP Bao bì Dầu khí Việt Nam cấp cho Phiếu mua hàng đây là khoản thu nhập chịu thuế TNCN (theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC), do đó Công ty CP Bao bì Dầu khí Việt Nam phải tính khoản thu nhập này cho từng người lao động thụ hưởng khi quyết toán thuế TNCN.

        Trường hợp Công ty CP Bao bì Dầu khí Việt Nam mua sữa để cấp cho cán bộ công nhân viên theo Quy chế thông thường là cho, tặng thì Công ty phải lập hoá đơn GTGT theo quy định tại Khoản 7 Điều 3 Thông tư số 26/2015/TT-BTC nêu trên.

        Trường hợp Công ty CP Bao bì dầu khí Việt Nam khi chi chế độ độc hại bằng hiện vật cho người lao động thì không phải lập hoá đơn GTGT. Công ty được tính vào chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế TNDN theo quy định.

        Tệp đính kèm: Download

 

4 – Công văn số 5057/TCT-CS ngày 13/12/2018 về việc miễn chữ ký điện tử của người mua và dấu người bán trên hóa đơn điện tử

        Trường hợp người mua không phải là đơn vị kế toán hoặc là đơn vị kế toán nếu có các hồ sơ, chứng từ chứng minh việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa Công ty với người mua như: hợp đồng kinh tế, phiếu xuất kho biên bản giao nhận hàng hóa, biên nhận thanh toán, phiếu thu, hồ sơ chứng từ khác thì Công ty lập hóa đơn điện tử cho người mua theo quy định, trên hóa đơn điện tử không nhất thiết phải có chữ ký điện tử của người mua.

        Chính phủ đã ban hành Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12/9/2018 quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Theo đó, khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán (trừ hộ, cá nhân kinh doanh theo Khoản 6 Điều 12 của Nghị định này) phải lập hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế để giao cho người mua theo định dạng chuẩn dữ liệu mà cơ quan thuế quy định và phải ghi đầy đủ nội dung theo quy định, không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

        Trường hợp khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, người bán có sử dụng máy tính tiền thì đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.

        Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hộ, cá nhân kinh doanh đã thông báo phát hành hóa đơn đặt in, hóa đơn tự in, hoặc đã mua hóa đơn của cơ quan thuế để sử dụng trước ngày 01/11/2018 thì được tiếp tục sử dụng hóa đơn đặt in, hóa đơn tự in, hóa đơn đã mua đến hết ngày 31/10/2020 và thực hiện các thủ tục về hóa đơn theo quy định tại Nghị định 51/2010/NĐ-CP, Nghị định 04/2014/NĐ-CP.

        Trong thời gian từ ngày 01/11/2018 đến ngày 31/10/2020, trường hợp cơ quan thuế thông báo cơ sở kinh doanh chuyển đổi áp dụng hóa đơn điện tử có mã nếu cơ sở kinh doanh chưa đáp ứng đủ điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin mà tiếp tục sử dụng hóa đơn theo các hình thức nêu trên thì cơ sở kinh doanh thực hiện gửi dữ liệu hóa đơn đến cơ quan thuế theo Mẫu số 03 cùng với việc nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng.

        Tệp đính kèm: Download

 

5 – Công văn số 5069/TCT-CS ngày 13/12/2018 về việc giải đáp nội dung liên quan tới thuế suất thuế GTGT

        Trường hợp Công ty xuất bán các sản phẩm hàng hóa đã được công nhận là sản phẩm thức ăn chăn nuôi theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 5/2/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi và khoản 2, khoản 3 Điều 1 Thông tư số 50/2014/TT-BNNPTNT ngày 24/12/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho doanh nghiệp thì các sản phẩm nêu trên thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định.

        Tệp đính kèm: Download

 

6 – Công văn số 5071/TCT-CS ngày 13/12/2018 về việc chính sách thuế TNDN liên quan đến khoản chi phí trả lãi vay bằng ngoại tệ

        Trường hợp doanh nghiệp vay ngoại tệ của tổ chức, cá nhân nước ngoài không phải là tổ chức tín dụng để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh nếu thực hiện đúng quy định của pháp luật quản lý ngoại hối, Tổng cục Thuế có ý kiến về mặt nguyên tắc như sau:

        – Khoản chi phí lãi vay của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định và không vượt quá 150% lãi suất cơ bản của NHNN Việt Nam công bố tại thời điểm vay thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

        – Trường hợp doanh nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh tại Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ thì tổng chi phí lãi vay bị khống chế theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 20/2017/NĐ-CP là toàn bộ chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ được ghi nhận vào chi phí tài chính trong kỳ tính thuế, bao gồm lãi vay phát sinh từ các bên liên kết và lãi vay phát sinh từ các bên độc lập.

        – Doanh nghiệp đi vay có trách nhiệm kê khai, khấu trừ, nộp thay thuế nhà thầu cho tổ chức nước ngoài (nếu vay của tổ chức) hoặc thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư vốn (nếu vay của cá nhân) đối với thu nhập từ lãi tiền vay.

        – Việc hạch toán kế toán khoản chi phí lãi vay của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán. Việc kê khai, nộp thuế đề nghị thực hiện theo quy định của pháp luật thuế.

        Tệp đính kèm: Download

 

7 – Công văn số 5073/TCT-CS ngày 13/12/2018 về việc thu tiền sử dụng đất

        Trường hợp tổ chức kinh tế được nhà nước giao đất không thông qua hình thức đấu giá để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê thuộc diện nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhà nước. Tổ chức kinh tế tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được trừ số tiền đã ứng trước vào tiền sử dụng đất phải nộp, mức trừ không vượt quá số tiền sử dụng đất phải nộp; Số tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng còn lại chưa được trừ vào tiền sử dụng đất phải nộp (nếu có) thì được tính vào vốn đầu tư của dự án theo quy định tại khoản 2, Điều 15 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.

        Giá đất tính thu tiền sử dụng đất phải nộp được xác định theo từng trường hợp quy định tại điểm b, điểm c, khoản 3, Điều 3 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ nêu trên.

        Tệp đính kèm: Download

 

8 – Công văn số 5084/TCT-CS ngày 13/12/2018 về việc hồ sơ miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội

        Pháp luật về nhà ở hiện hành chỉ quy định về miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, chưa có quy định về việc miễn tiền sử dụng đất đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân chuyển mục đích sử dụng đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội nên chưa có cơ sở xem xét hồ sơ miễn tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

        Tệp đính kèm: Download

 

9 – Công văn số 5128/TCT-CS ngày 14/12/2018 về việc chính sách thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng thiết bị phun sương dùng trong nông nghiệp

        Theo trình bày của Cục Thuế thành phố Hà Nội, Công ty TNHH Viko Energy Vina nhập khẩu “Thiết bị phun sương dùng trong nông nghiệp (dạng súng phun cầm tay), model: VIKOENERGY-FM 200, hoạt động bằng pin (ắc quy điện), điện áp 12V. Hàng mới 100%” chưa được quy định trong danh mục máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính và các công văn hướng dẫn về máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp của Bộ Tài chính nên không thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

        Tệp đính kèm: Download

Trân trọng.!.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *